Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không

Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không

Vừa qua bác Trịnh Thị Nguyệt ở khu tập thể nhà máy Bia Thanh Hóa có gửi mail về cho chúng tôi với câu hỏi Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không ? , nội dung hôm nay ban biên tập Luật Sư Việt Nam chúng tôi xin được giải đáp chủ đề này , mời quý bạn đọc cùng theo dõi và tham khảo .

  • Thuật ngữ – Luật kinh doanh – hay – Pháp luật kinh doanh – tại nước ta được bàn đến vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ 20 , trong các đề tài nghiên cứu khoa học và hội thảo khoa học.
  • Quan niệm về Luật kinh doanh là ngành luật hay môn học thì nội dung cơ bản của nó cũng chứa đựng hai vấn đề pháp lý cơ bản là : pháp luật về hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh ( CTKD ) và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh .

Nhìn chung những vấn đề trong nội dung của Luật kinh doanh cơ bản giống như nội dung cơ bản của luật kinh tế, nếu có khác thì chỉ khác về cách thức, mức độ can thiệp (quản lý) bằng pháp luật của các nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong từng thời kỳ lịch sử mà thôi
Như vậy có thể hiểu, luật kinh doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước và trong quá trình kinh doanh của các CTKD với nhau.

Luật kinh doanh - Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không

♦ – Trở lại với câu hỏi : Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không ?

Ở đây chúng ta cần bàn về các mặt như sau :

1 . Khái niệm Luật Kinh Tế

  • Các quan điểm và quan niệm trước đây Luật kinh tế là ngành luật riêng biệt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ( XHCN ), luật kinh tế ( LKT ) được hiểu là ngành luật trong hệ thống pháp luật việt nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế và trong quá trình kinh doanh giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa hoặc giữa các tổ chức này với nhau nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch do Nhà nước giao .
Luật kinh tế - Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không
  • Đến hiện nay trong các hoạt động kinh tế, CTKD không chỉ là các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa mà có nhiều chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác cùng tham gia kinh doanh bình đẳng. Các CTKD này được tự do chọn lựa ngành nghề kinh doanh, đăng ký kinh doanh nhằm mục tiêu kiếm lời trong sự quản lý của Nhà nước về kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng của Nhà nước .;
  • Chính vì vậy mà vai trò điều chỉnh của LKT đối với các hoạt động kinh tế hiện nay có nội dung nhấn mạnh đến các quan hệ kinh doanh giữa các CTKD khác nhau trong nền kinh tế thị trường, nên có quan điểm gọi luật kinh tế ( LKT ) là luật kinh doanh ( LKD ) .
  • Do đó khái niệm LKT ngày nay : là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các CTKD với nhau .

2 . Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế

2.1 Đối tượng điều chỉnh

Nhìn chung thì mỗi ngành luật có đối tượng điều chỉnh riêng, đối tượng điều chỉnh của LKT là những quan hệ kinh tế chịu sự tác động của luật, có thể kể đến là :

  • Thứ nhất là : Nhóm quan hệ phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về kinh tế với các chủ thể kinh tế : Nhóm quan hệ này thể hiện sự quản lý kinh tế của Nhà nước, khi mà các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình. Các chủ thể trong mối quan hệ này không bình đẳng về mặt pháp lý, các chủ thể bị quản lý phải phục tùng mệnh lệnh, ý chí của cơ quan quản lý nhà nước về mặt kinh tế .
  • Thứ 2 là : Nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các CTKD với nhau : Nhóm quan hệ này phát sinh trong quá trình các CTKD thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh ( sxkd ) nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chủ thể của nhóm quan hệ này chủ yếu là các CTKD thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tự nguyên không bị áp đặt. Đây là nhóm quan hệ chủ yếu và phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế.
  • Thứ 3 là : Nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ các đơn vị : Các CTKD khi tham gia kinh doanh hình thành nên các đơn vị kinh doanh với nhiều hình thức khác nhau như các loại hình công ty doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân…, vv … Trong quá trình hoạt động kinh doanh các cá nhân, tổ chức tham gia góp vốn tạo nên các doanh nghiệp, bản thân các thành viên trong doanh nghiệp có thể mâu thuẩn quyền lợi, nghĩa vụ hoặc mâu thuẩn giữa thành viên với doanh nghiệp dẫn đến tranh chấp cần sự điều chỉnh của luật. ;

2.2 Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh của LKT là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp thỏa thuận bình đẳng.

  • Phương pháp mệnh lệnh : Phương pháp mệnh lệnh được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các CTKD. Trong mối quan hệ này cơ quan nhà nước có quyền đưa ra các quy định buộc các CTKD phải tuân theo. Cách thức tác động của luật cho thấy vị trí bất bình đẳng giữa bên quản lý và bên bị quản lý, bên bị quản lý buộc phải thực hiện ý chí của cơ quan quản lý đã thể hiện tính chất phục tùng mệnh lệnh.
  • Phương pháp thỏa thuận bình đẳng : Phương pháp thỏa thuận bình đẳng được sử dụng điều chỉnh các nhóm quan hệ kinh tế phát sinh giữa các CTKD hoặc quan hệ phát sinh trong nội bộ đơn vị kinh doanh. Trong các quan hệ này, luật tác động cho phép các chủ thể khi tham gia vào quá trình kinh doanh có quyền bình đẳng thỏa thuận với đối tác những vấn đề mà các chủ thể quan tâm để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Điều này thể hiện sự tôn trọng quyền tự quyết của các CTKD trong môi trường kinh doanh.

+++ Tham khảo thêm về vấn đề Điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư khi bạn có nhu cầu về lĩnh vực này

3 . Chủ Thể Của Luật Kinh Tế

Chủ thể của LKT là những cá nhân và tổ chức có đủ điều kiện luật định để tham gia vào quan hệ kinh doanh, Gồm có :

3.1 Cá nhân : Là những con người cụ thể. Cá nhân muốn trở thành chủ thể của LKD phải hội đủ các điều kiện sau :

+ Có năng lực hành vi dân sự

+ Không thuộc trường hợp bị hạn chế kinh doanh hay cấm kinh doanh

+ Đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật

3.2 Tổ chức : Là tập hợp bao gồm các cá nhân hoặc cá nhân và tổ chức hay các tổ chức liên kết hình thành tổ chức mới nhằm thực hiện các hoạt động sxkd . Căn cứ vào tính chất của tổ chức, luật pháp phân chia tổ chức thành hai loại : tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân ;

3.3 Pháp nhân : Là tổ chức có đầy đủ các điều kiện luật định tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách chủ thể quan hệ pháp luật. Để được công nhận là một pháp nhân, theo Bộ luật dân sự, tổ chức phải có đủ các điều kiện sau :

+ Được thành lập hợp pháp

+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó

+ Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật độc lập

Trong lĩnh vực kinh doanh, pháp nhân tham gia vào các quan hệ kinh doanh được gọi là pháp nhân kinh tế ( PNKT ). Khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh, hành vi của PNKT được thực hiện bởi người đại diện hợp pháp của pháp nhân.

♦ Tổ chức không là pháp nhân : Là những tổ chức không đáp ứng đủ các điều kiện tại Bộ luật dân sự. Trong lĩnh vực kinh doanh, tổ chức không có tư cách pháp nhân được phép tham gia vào các quan hệ kinh doanh theo quy định pháp luật, thực hiện các hoạt động kinh doanh thông qua người đại diện hợp pháp của tổ chức.

♦ Hộ gia đình kinh doanh : Hộ gia đình kinh doanh thực hiện các hoạt động kinh doanh dưới hình thức pháp lý là Hộ kinh doanh cá thể, bao gồm các thành viên trong gia đình góp tài sản, công sức để hoạt động kinh tế chung trong các lĩnh vực sxkd do pháp luật quy định. Khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, Hộ gia đình kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của cả Hộ, bao gồm cả tài sản riêng của các thành viên trong hộ gia đình kinh doanh nếu tài sản của Hộ gia đình không giải quyết hết các khoản nợ đối với các chủ nợ ;

Vâng, thưa quý vị bạn đọc – Trong quá trình quản lý xã hội, LKT là công cụ quản lý kinh tế quan trọng của Nhà nước. Thực hiện chính sách, chủ trương cải cách và chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng, LKD đã ghi nhận và thể chế hóa các chính sách, chủ trương của Đảng thành các quy định pháp luật, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như mong muốn của Đảng và Nhà nước.

Kết Lại : Qua những trình bày trên đây chúng ta có thể thấy, ở phương diện nào đó, LKT và LKD được sử dụng như những khái niệm cùng loại – đều là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, thương mại hoặc kinh doanh tại quốc gia nào đó, trong giai đoạn lịch sử nào đó. Mặc dù vậy thì , tùy thuộc vào cách thức và mức độ can thiệp của nhà nước vào hoạt động nói trên mà trong nội dung của chúng cũng có những điểm khác nhau nhất định .

++ Trên đây là nội dung chúng tôi trả lời câu hỏi Luật kinh doanh và luật kinh tế có giống nhau không của bác Trịnh Thị Nguyệt ở khu tập thể nhà máy bia Thanh Hóa , hy vọng những thông tin chúng tôi vừa trình bày làm thỏa mãn câu hỏi của bác cũng như của bạn đọc gần xa .

Mời tham khảo thêm về sản phẩm : Nồi cơm điện nhật Toshiba giúp các gia đình nấu cơm ngon hơn, thơm hơn, tiết kiệm điện năng

Trân Trọng !